Phàm làm việc gì cũng phải nghĩ đếnhậu quả của nó (Bài học ngàn vàng) - Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi - Lý tưởng chỉ hướng cho thuyền đời và nở hoa cho cuộc sống.

NGHỆ THUẬT NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG (dàn ý)

Chủ nhật - 05/12/2010 12:09
NGHỆ THUẬT NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG (dàn ý)

NGHỆ THUẬT NÓI TRƯỚC CÔNG CHÚNG (dàn ý)

Nghệ thuật nói trước công chúng là một đề tài rộng lớn cần nhiều thời gian học hỏi. Không chỉ ứng dụng trong một vài lĩnh vực, nó còn là công cụ giao tiếp (VD: nghệ thuật thuyết phục, đàm phán, giáo viên đứng lớp, MC trên sân khấu, quản trò….)

 

I. Mở bài

- Trong ngũ minh nó chính là Thanh Minh

- Nói trước công chúng là quá trình tương tác hai chiều giữa nguời nói và người nghe(người nghe tiếp nhận kiến thức, người nói củng cố kiến thức…)

- Tuy nói trước công chúng thật ra không có một tiêu chuẩn đánh giá chính xác nhưng vẫn có những quy tắc chung trong quá trình chuẩn bị và trong quá trình nói

- Một buổi nói chuyện trước công chúng như thế náo được đánh giá là thành công? Thành công khi đạt được mục đích cần truyền đạt (tri thức, hoặc giới thiệu, hoặc dẫn dắt…) và đáp ứng được tâm lý người nghe (nói như thế nào để người nghe tiếp nhận những gì mình trao đổi một cách nhẹ nhàng, tự nhiên…)

- Những điều người nói cần phải có: Nội minh (không chỉ là Phật pháp mà còn là kiến thức rộng, sâu sắc, lập trường vững vàng), Tác phong (tùy theo đề tài mà cần nghiêm nghị dí dỏm…), Sự chuẩn bị chu đáo, hiểu biết xã hội, khả năng ứng biến nhanh…

 II. Thân bài

1/ Mục đích truyền đạt

b1/ Muốn đạt được mục đích truyền đạt thì cần phải có sự chuẩn bị chi tiết, chu đáo. Cần phải trả lời 5 câu hỏi sau

Nói cái gì?

Nói cho ai?

Nói ở đâu?

Nói khi nào?

Tại sao nói?

Trả lời được 5 câu hỏi trên mới tính tới chuyện “nói như thế nào?” (lập dàn bài chi tiết). trả lời 5 câu hỏi này là khế lý khế cơ.

b2/ Tra cứu sưu tầm tài liệu về vấn đề cần nói.

b3/ Lập dàn bài chi tiết. Cần xác định những ý nào cần nói (ý chính trước, rồi đến các ý phụ, cái nào nói thêm, cái nào quan trọng…) Nếu có quy định thời gian cần xác định mỗi ý cần bao nhiêu thời gian.

Khi lập dàn bài chi tiết có vài cách lập

- Đi từ nội dung đến hình thức (từ tánh đến tướng đến dụng) hoặc ngược lại

- Đi từng phần của theo thứ tự trước sau.

- Chia theo từng khối để trình bày.

b4/ suy niệm trước pp trình bày. Giới thiệu vài phương pháp.

Pp1. Tống phân hợp (đưa ra ý chính trước, triển khai ý chính và gút lại)

Pp2. Quy nạp (đưa ví dụ dẫn chứng trước và kết luận điểm chính)

Pp3. Tịnh tiến (trình bày từ gần đến xa từ dễ đến khó, từ cái đơn giản đến cái phức tạp…).

b5/ suy niệm trước cách trình bày

c1/ tạo ấn tượng bằng cách so sánh

c2/ kể chuyện (vừa kể chuyện vừa lồng vào ý kiến cần phân tích trình bày)

c3/ Sử đụng điển tích (các câu chuyện xưa ai cũng biết, nhưng có giá trị khái quát cao)

b6/ các pp kết luận

c1/ kết luận kín (đúc kết một cách chắc chắn không mơ hồ, chính xác)

c2/ kết luận mở (vừa đúc kết ,vừa gợi ra hương suy luận mới cho người nghe..)

2/ Đáp ứng được tâm lý người nghe.

Cái này khó, vì không có tiêu chuẩn, phụ thuộc vào năng khiếu. Nhưng có thể đoán biết qua những hiện tượng sau

- Người nghe có chú ý hay không

- Người nghe có tích cực tham gia trả lời hay không.

- Người nghe có hiểu những gì mình nói hay không

- Đoán biết qua ánh mắt..v..v

người nói cần phải nhanh nhạy, để thay đổi, hoặc pha trò…

Kể vài mẩu chuyện…

3/ Các yêu cầu, rèn luyện

a/ Nội minh cần không ngừng học hỏi kiến thức

- Chăm đọc sách: để có kiến thức

- Làm giàu vốn ngôn ngữ (muốn nhà chắc thì phải có gạch tốt , muốn nói hay phải có vốn từ phong phú

- học thuộc lòng những đọan hay (luyện trí nhớ, kiến thức thâm thấu, tiếp xúc nhiều luồng tư tửong khác nhau..)

- học ngoài đời

- bắt chước (xào nấu lại của người ta, nhưng theo ý mình)

- lập luận chắc chắc, dẫn chứng rõ ràng

b/ Tác phong.

- Phải có thần, dáng điệu, đôi mắt…

- Có nét riêng trong khi trình bày

- Tùy trường hợp mà nên đứng đắn hoặc dí dỏm

- Bình tĩnh, ứng biến nhanh

c/ những điều nên tránh

- tránh nói lắp

- tránh dùng từ địa phương

- tránh nói quá nhiều

- tránh nói dài dòng lặp lại

4/ Thinh lặng còn hùng biện hơn lời nói. (mức độ cao của nghệ thuật nói trứoc công chúng)

5/ Nhân quả của người nói pháp.

Nếu nói đúng pháp thì đó là phước báo vô lượng. Nên không được nói sai, ngụy biện, nói tà thuyết.

Nếu truyền được một chân lý cho người nghe, người này sẽ đem điều chân lý này nói cho người khác…

III. Kết luận

(kết luận mở)

Tác giả bài viết: Minh Triết

Nguồn tin: http://www.nguoiaolam.net

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

 

Liên kết lam






Thống kê

Đang truy cậpĐang truy cập : 21


Hôm nayHôm nay : 299

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 8390

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 2514252

Đăng nhập